Theo quy định hiện hành, luật sư bị xem xét thu hồi chứng chỉ nếu không gia nhập đoàn luật sư trong 2 năm; không thành lập hoặc làm việc cho tổ chức hành nghề luật sư trong 3 năm; hoặc không hành nghề liên tục 5 năm kể từ khi được cấp thẻ luật sư.

Tại dự thảo Luật Luật sư sửa đổi, Bộ Tư pháp đề xuất rút xuống còn 12 tháng. Nếu không hành nghề dưới bất kỳ hình thức nào trong thời gian này, luật sư sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, song vẫn có thể làm thủ tục để đề nghị cấp lại.

Điều này nhằm siết tình trạng luật sư có tên trong danh sách hành nghề nhưng không thực sự hoạt động. Song nhiều ý kiến lo ngại sẽ tạo rào cản với một số trường hợp đặc thù.

Theo luật sư Phạm Thanh Bình, Phó giám đốc Công ty Luật Bảo Ngọc (Hà Nội), đề xuất này ngoài những tác động tích cực như Bộ Tư pháp nêu, còn phù hợp với thực tế hệ thống pháp luật Việt Nam thường xuyên được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội.

Luật sư không hành nghề trên thực tiễn trong khoảng thời gian dài sẽ gây nên tình trạng thiếu hụt về kiến thức, tư duy pháp lý, không nắm bắt được những thay đổi, cập nhật của luật pháp.

Rào cản với luật sư nữ, người ốm bệnh

Song theo luật sư Bình, đề xuất này có thể gây rào cản lớn với luật sư nữ, đặc biệt trong giai đoạn thai sản, nuôi con nhỏ. Bởi khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép "lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 2 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng".

Ông Bình cho rằng với vai trò làm mẹ, việc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi ít nhiều sẽ khiến các luật sư nữ gặp nhiều hạn chế về thời gian hành nghề.

Thứ hai, mốc thời gian 12 tháng như dự thảo đề xuất còn hạn chế cơ hội chuyển hướng, tích lũy kiến thức nghề nghiệp. Nhiều luật sư muốn có thời gian tạm nghỉ hành nghề để học nâng cao kiến thức chuyên môn, tham gia các khóa học tập tại nước ngoài, nếu bị bó buộc trong khoảng thời gian quá ngắn, sẽ ngần ngại với các cơ hội hoặc gặp khó khăn lớn trong việc sắp xếp công việc.

Ngoài ra, theo luật sư Bình, đề xuất nêu trên cũng chưa phù hợp đối với trường hợp người có chứng chỉ hành nghề luật sư gặp biến cố bất khả kháng như sức khỏe, gia đình, dịch bệnh...

Từ những phân tích trên, theo luật sư, để đạt được mục đích quản lý và đảm bảo quyền hành nghề hợp pháp, tính nhân văn của pháp luật, cơ quan soạn thảo nên xem xét điều chỉnh mốc thời gian là 24 tháng hoặc 36 tháng liên tục không hành nghề thì mới xem xét thu hồi chứng chỉ hành nghề.

Đồng thời, cơ quan quản lý nên có cơ chế bổ trợ đối với các trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn, thời gian nghỉ thai sản theo chế độ, thời gian điều trị bệnh có xác nhận của cơ sở y tế hoặc các trường hợp bất khả kháng khác không nên được tính vào thời hạn không hành nghề liên tục.

Thay vì thu hồi chứng chỉ hành nghề nếu vi phạm thời hạn nêu trên, cơ quan quản lý có thể áp dụng biện pháp tạm ngừng tư cách hành nghề, yêu cầu tham gia các khóa bồi dưỡng chuyên môn bắt buộc hoặc thực hiện kiểm tra kiến thức ngắn hạn trước khi quay trở lại hành nghề, luật sư Bình kiến nghị.

Các nước quản lý thời gian hành nghề của luật sư thế nào?

Mỹ, Anh, Đức, Canada và Australia hầu như không thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư chỉ vì một người không hành nghề trong khoảng thời gian nhất định.

Thay vào đó, họ áp dụng mô hình "active - inactive" (đang hành nghề - tạm ngừng hành nghề). Luật sư có thể rời khỏi nghề nhiều năm để sinh con, chăm sóc gia đình, làm doanh nghiệp, làm công chức, học tập ở nước ngoài hoặc chuyển nghề tạm thời mà vẫn giữ tư cách luật sư dưới một hình thức nhất định.

Nhưng khi muốn quay lại hành nghề luật sư, họ phải đáp ứng các điều kiện cập nhật kiến thức hoặc tái kích hoạt tư cách hành nghề.

Tại Mỹ, việc một luật sư tạm ngừng hành nghề trong nhiều năm rất phổ biến. Thay vì thu hồi giấy phép, phần lớn các bang cho phép luật sư chuyển sang trạng thái "inactive" (không hoạt động).

Ở trạng thái này, họ không được đại diện khách hàng hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý, nhưng vẫn duy trì tư cách thành viên của đoàn luật sư bang. Khi muốn quay lại hành nghề, họ thực hiện thủ tục khôi phục tư cách hoạt động và có thể phải hoàn thành các yêu cầu đào tạo bổ sung.

Cách tiếp cận này phản ánh quan điểm rằng nghề luật là một nghề nghiệp dài hạn. Một người có thể tạm rời khỏi thị trường lao động vài năm nhưng chưa chắc đã từ bỏ nghề nghiệp của mình.

Các luật sư tại một phiên tòa hồi tháng 1 tại TAND Hà Nội. Ảnh: Phạm Dự

Các luật sư tại một phiên tòa ở TAND Hà Nội hồi tháng. Ảnh: Phạm Dự

Tại Anh và xứ Wales, cơ quan quản lý nghề luật cũng áp dụng tư duy tương tự. Một luật sư có thể không sở hữu giấy phép hành nghề trong nhiều năm nhưng vẫn được ghi nhận là luật sư trong danh sách chính thức. Họ chỉ không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng trong thời gian đó.

Khi muốn quay trở lại nghề, họ làm thủ tục xin cấp lại giấy phép hành nghề và đáp ứng các yêu cầu chuyên môn cần thiết.

Anh tách biệt khá rõ giữa hai khái niệm: mất quyền hành nghề và mất tư cách luật sư. Việc không hoạt động nghề nghiệp dẫn đến tình trạng thứ nhất chứ không mặc nhiên dẫn đến tình trạng thứ hai.

Theo nhiều chuyên gia Anh, đây là cách dung hòa giữa yêu cầu quản lý nghề nghiệp với quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân.

Còn Australia và Canada, trọng tâm quản lý là đào tạo thường xuyên. Các luật sư phải hoàn thành số giờ bồi dưỡng chuyên môn nhất định mỗi năm để bảo đảm kiến thức luôn được cập nhật. Nếu nghỉ hành nghề một thời gian dài, họ có thể phải hoàn thành thêm các khóa học hoặc thủ tục tái kích hoạt tư cách hành nghề trước khi quay trở lại.

Cách tiếp cận này xuất phát từ nhận thức rằng pháp luật luôn thay đổi. Điều cần quan tâm không phải luật sư đã nghỉ nghề bao lâu, mà là họ có nắm được những thay đổi đó hay không.

Như vậy, có thể thấy các quốc gia đều thừa nhận một thực tế: Luật sư nghỉ hành nghề quá lâu có thể gặp nguy cơ mai một kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Tuy nhiên, cách giải quyết rất khác nhau.

Lý do là trong thực tế, có rất nhiều nguyên nhân chính đáng khiến một luật sư phải tạm dừng công việc: sinh con, chăm sóc gia đình, điều trị bệnh, học tập ở nước ngoài, làm việc trong khu vực công hoặc chuyển hướng nghề nghiệp trong một giai đoạn nhất định.

Vì vậy, câu hỏi mà nhiều nền tư pháp đặt ra không phải là "đã nghỉ nghề bao lâu", mà là "còn đủ năng lực để hành nghề hay không".

Hải Thư

Nguồn: VnExpress.net


Vietnamvlog Pro

308 posts

Related post