Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi, trong đó có đề xuất thay đổi tiêu chuẩn về trình độ học vấn.

Cụ thể, dự thảo đề xuất tiêu chuẩn "có bằng từ cử nhân luật trở lên", còn luật hiện hành quy định luật sư phải "có bằng cử nhân luật".

Hiện nay, hệ thống giáo dục Việt Nam cho phép người có bằng cử nhân ở các ngành khác vẫn được học tiếp và lấy bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật.

Điều này đồng nghĩa, theo dự thảo, những người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn có thể đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ học vấn để trở thành luật sư. Nhưng nó không đồng nghĩa với việc người chưa từng được đào tạo luật có thể hành nghề luật sư.

Nhiều người băn khoăn có nên mở rộng đối tượng hành nghề đối với những người đã được đào tạo luật ở trình độ sau đại học nhưng không xuất phát từ bậc cử nhân luật hay không.

Hai mô hình đào tạo luật sư phổ biến trên thế giới

Các quốc gia có ngành luật phát triển trên thế giới hiện không lựa chọn một mô hình chung mà phân hóa thành hai hướng tiếp cận khác nhau. Một bên coi luật là ngành nghề đòi hỏi nền tảng chuyên môn được xây dựng từ sớm và bài bản. Bên còn lại xem luật là nghề nghiệp có thể tiếp nhận nhân lực từ nhiều lĩnh vực khác nhau, miễn người học vượt qua được quá trình đào tạo và sát hạch chuyên nghiệp.

Với mô hình thứ nhất, coi luật sư phải được đào tạo luật từ gốc, Đức là ví dụ điển hình.

Theo mô hình chủ đạo tại quốc gia này, để trở thành luật sư (hoặc thẩm phán hay công tố viên), sinh viên phải trải qua chương trình đào tạo luật kéo dài khoảng 5 năm, sau đó trở thành "luật gia tập sự" trong 2 năm và tiếp tục vượt qua hai kỳ thi quốc gia nổi tiếng khắt khe.

Con đường này gần như không dành cho người "rẽ ngang". Hệ thống được thiết kế trên quan điểm rằng kiến thức pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, cần được tích lũy từ những môn học nền tảng như luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, tố tụng, triết học pháp luật, lịch sử pháp luật... trước khi tiến đến hành nghề.

Ưu điểm của mô hình này là bảo đảm tính hệ thống trong kiến thức pháp lý. Luật sư được đào tạo bài bản từ đầu, hạn chế nguy cơ xuất hiện những "lỗ hổng nền tảng".

Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm. Con đường trở thành luật sư dài, tốn kém và tương đối khép kín. Những người có chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khác như công nghệ, tài chính, y tế hay kỹ thuật sẽ gặp nhiều rào cản nếu muốn chuyển sang nghề luật.

Với mô hình thứ hai, không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật, Mỹ là ví dụ tiêu biểu.

Muốn vào trường luật, ứng viên chỉ cần có bằng đại học ở bất kỳ ngành nào. Một sinh viên vật lý, kỹ sư, nhà kinh tế học hay thậm chí nghệ sĩ đều có thể nộp đơn học luật.

Sau đó, họ theo học chương trình Juris Doctor (JD) kéo dài khoảng 3 năm trước khi tham gia kỳ thi luật sư theo quy định của từng bang.

Điều quan trọng không phải người học xuất phát từ đâu mà là họ có đủ năng lực để hoàn thành chương trình đào tạo luật chuyên nghiệp và vượt qua kỳ sát hạch hay không.

Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là sự đa dạng. Những người từng học công nghệ thông tin có thể trở thành chuyên gia về pháp luật dữ liệu và an ninh mạng. Người có nền tảng tài chính có thể làm luật sư chứng khoán hoặc mua bán - sáp nhập doanh nghiệp. Các bác sĩ có thể tham gia lĩnh vực pháp luật y tế và trách nhiệm nghề nghiệp.

Nhiều hãng luật quốc tế đánh giá đây là lợi thế quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp ngày càng phức tạp và mang tính liên ngành.

Tuy nhiên, mô hình này cũng đối mặt với lo ngại rằng người học có thể thiếu kiến thức nền tảng pháp lý nếu chương trình đào tạo chuyển đổi không đủ sâu hoặc quá thiên về kỹ năng hành nghề.

Do đó, cuộc tranh luận thực chất không nằm ở việc có hay không có bằng cử nhân luật. Dù xuất phát từ mô hình nào, vấn đề cốt lõi vẫn là xây dựng được cơ chế bảo đảm năng lực hành nghề đủ chặt chẽ.

Các hệ thống đào tạo luật sư trên thế giới không quá đặt nặng tên gọi của tấm bằng, nhưng đặc biệt coi trọng việc người hành nghề đã được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật cốt lõi hay chưa.

"Đào tạo cử nhân luật đóng vai trò nền tảng khi hành nghề"

Theo luật sư Phạm Thanh Bình, Phó giám đốc Công ty Luật Bảo Ngọc (Hà Nội), đề xuất này có nhiều điểm tích cực khi góp phần thúc đẩy đội ngũ luật sư có nền tảng đa ngành.

Việc cho phép người có bằng đại học ngoài ngành luật học tiếp cao học luật và có thể trở thành luật sư sẽ tạo nên đội ngũ luật sư am hiểu sâu sắc các lĩnh vực chuyên biệt như tài chính, sở hữu trí tuệ, y tế...

Quy định này cũng bắt nhịp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên, để áp dụng tại Việt Nam, cần cân nhắc nhiều khía cạnh.

Theo luật sư Bình, chương trình đào tạo cử nhân luật vẫn giữ vai trò nền tảng chuyên môn cốt lõi đối với người hành nghề luật sư.

Chương trình này không chỉ cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện về các lĩnh vực pháp luật cơ bản mà còn hình thành tư duy pháp lý, phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết, trình bày và tranh luận - những năng lực được xem là "xương sống" của nghề luật sư.

Đặc biệt, nghề luật sư liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, chương trình đào tạo luật sư cần được xây dựng trên nền tảng kiến thức pháp luật toàn diện.

Từ các quan điểm trên, luật sư Bình cho rằng dù đề xuất có nhiều điểm tích cực, việc mở rộng điều kiện hành nghề đối với người không có bằng cử nhân luật vẫn có thể làm phát sinh nguy cơ thiếu hụt kiến thức nền tảng nếu không được thiết kế cơ chế kiểm soát phù hợp.

"Chương trình thạc sĩ luật hiện nay thường chỉ kéo dài từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm, chủ yếu tập trung vào chuyên ngành chuyên sâu hoặc mang tính nghiên cứu", luật sư đánh giá.

Chưa kể, nếu không có cơ chế triển khai hợp lý, đề xuất này có thể dẫn đến nguy cơ quá tải đối với hệ thống đào tạo. Sự gia tăng đột biến về số lượng học viên sẽ tạo áp lực lớn lên cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và nguồn học liệu vốn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu hiện nay.

Các luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại và người liên quan trong đại án đăng kiểm năm 2024. Ảnh: Thanh Tùng

Các luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại và người liên quan trong "đại án đăng kiểm". Ảnh: Thanh Tùng

Luật sư Bình đề xuất, nếu mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư theo hướng trên, cần xây dựng cơ chế đánh giá và bổ sung kiến thức nền tảng tương đương chương trình cử nhân luật.

Đối với người không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật, cần quy định họ phải hoàn thành số lượng tín chỉ cốt lõi của chương trình đại học luật, như luật dân sự, luật hình sự, tố tụng..., trước khi được công nhận đủ điều kiện học nghề luật sư.

Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đào tạo chuyển đổi, cung cấp các chứng chỉ hoặc chương trình bổ sung kiến thức pháp luật đại cương cho nhóm đối tượng này.

Hải Thư

Nguồn: VnExpress.net


Vietnamvlog Pro

265 posts

Related post